Sự Tương Quan Giữa Tiếng Nhật Và Tiếng Việt

Cỡ chữ
100%
Furigana
Tắt Bật
Trên Dưới
Giọng đọc
Tắt Bật
Cỡ chữ
100%
Furigana
Tắt Bật
Trên Dưới
Giọng đọc
Tắt Bật

Để học tiếng Nhật, có lẽ chúng ta phải giải mã một chút những điều bí ẩn về nó. Hôm nay Tiengnhatdongian.com sẽ diễn giải ngôn ngữ tiếng Nhật một cách đơn giản, dễ hiểu nhất có thể. Cùng với đó, tôi cũng sẽ so sánh với tiếng Việt để các bạn thấy rằng hai ngôn ngữ … không khác nhau nhiều.

=> Ngược với tiếng Việt

Bổ ngữ (修飾語しゅうしょくご, kanji: TU SỨC NGỮ) là từ ngữ dùng để bổ nghĩa (làm rõ nghĩa) cho một từ ngữ khác, tiếng Anh gọi là modifier.
Ví dụ: “Kia là bông hoa tôi mua” thì “tôi mua” bổ nghĩa cho “bông hoa”.

Bổ ngữ tiếng Nhật luôn đứng trước từ được bổ ngữ, ví dụ:

赤あかい花はな = bông hoa đỏ, 赤あかい => 花はな
ベトナム学生がくせい= học sinh Việt Nam, ベトナム => 学生
がくせい
 
日本語にほんご修飾語しゅうしょくご = Bổ ngữ tiếng Nhật (Japanese Modifier)

 

Dạng thông thường sẽ dùng trợ từ “の”  (“của”) để bổ nghĩa:

N2 の N1

Trong đó N2 bổ nghĩa cho N1.

私わたしのお金  きん= Tiền của tôi

“私わたしの (của tôi)” bổ nghĩa cho ” お金かね” (tiền).

私わたしの父ちち = Ba tôi
Quảng cáo giúp Tiếng Nhật Đơn Giản duy trì Website LUÔN MIỄN PHÍ
Xin lỗi vì đã làm phiền mọi người!

Ngoài ra có thể đặt trực tiếp “N2 N1“ để bổ nghĩa, ví dụ:
ベトナム学生 がくせい= Học sinh Việt Nam,
行政機関ぎょうせいきかん = Cơ quan hành chính,
試用しよう期間きかん = Thời gian thử việc, v.v…

=> Mấu chốt: Khi đã là cụm từ quen thuộc thì ít dùng trợ từ “の”; ngoài ra dùng “の” nhiều quá cũng khiến câu văn lủng củng.

Ví dụ:
サイゴン の夜よる= Đêm Sài Gòn; ở đây “夜よる” (đêm) đứng cuối là danh từ chính
夜よるの サイゴン = Sài Gòn của ban đêm, Sài gòn về đêm => “Saigon” là danh từ chính

Danh từ chính luôn đứng cuối và khi chuyển sang tiếng Việt chúng ta phải để đầu tiên rồi mới tới các bổ ngữ.
Nếu bạn không ý thức được điều này bạn sẽ dễ hiểu sai hay dịch nhầm. Tôi sẽ đưa ra ví dụ sau:

彼かれらの三人さんにん
三人さんにんの彼かれら
彼かれら: họ;三人さんにん: ba người

=> Các bạn có thấy sự khác nhau không? Các bạn sẽ dịch ra như thế nào? Bạn hãy thử dịch nhé.
Còn Tiengnhatdongian.com sẽ đưa ra đáp án như sau:

彼かれらの三人さんにん = ba người trong số họ (nghĩa là “họ” có nhiều hơn 3 người) => “彼かれら” bổ nghĩa cho “三人さんにん“
三人さんにんの彼かれら= ba người bọn họ (“họ” có đúng 3 người) / bọn họ ba người (làm gì đó) => “三人さんにん” bổ nghĩa cho “彼かれら“
Tất nhiên cả hai cũng có thể hiểu là “ba người bọn họ” (có đúng ba người) nhưng cách hiểu thông thường sẽ là như trên. Nhiều người vẫn dùng 2 trường hợp trên cùng ý nghĩa nhưng để tránh hiểu nhầm thì bạn nên phân biệt chúng.

Ví dụ:
昨日きのう市場しじょうで買かった赤あかい花はな = bông hoa màu đỏ tôi mua ở chợ hôm qua
đây “花はな” (hoa) có 2 bổ ngữ: “tôi mua ở chợ hôm qua” (昨日きのう市場しじょうで買かった) và “màu đỏ / đỏ” .
Trường hợp có nhiều bổ ngữ thì sẽ thường xếp liên tiếp. Sơ đồ bổ ngữ như sau:

昨日きのう市場しじょうで買かった => 花はな
赤あかい => 花
はな


Ví dụ:

時間じかんを忘わすれるほど夢中むちゅうになる ゲーム
trò chơi mà tôi say mê quên cả thời gian

“ゲーム” (trò chơi) có một bổ ngữ là “夢中むちゅうになる” (“tôi say mê”) nhưng để diễn tả “tôi say mê như thế nào” thì “say mê” lại có thêm bổ ngữ là “時間じかんを忘わすれるほど” (đến mức quên cả thời gian). Sơ đồ bổ nghĩa như sau:

時間じかんを忘わすれるほど =>夢中むちゅうになる => ゲーム

trò chơi <= tôi say mê <= quên cả thời gian

Quảng cáo giúp Tiếng Nhật Đơn Giản duy trì Website LUÔN MIỄN PHÍ
Xin lỗi vì đã làm phiền mọi người!

Để nhấn mạnh bổ ngữ, tiếng Việt dùng “mà“:

Món cá tôi làm => Món cá mà tôi làm

Nhấn mạnh như vậy chúng ta sẽ làm câu nói dễ hiểu hơn rất nhiều. Tiếng Nhật cũng … giống hệt tiếng Việt (vì thật ra mọi ngôn ngữ đều có vai trò như nhau: Phục vụ cho cuộc sống của con người).
Ví dụ:

毒どくがある キノコ =>毒どくのある キノコ
Nấm có độc => Nấm độc

Tại sao lại như vậy? Bởi vì nếu nói “毒どくがある キノコ ” thì lại có thể hiểu như đây là một vế câu với chủ ngữ là “毒どく” và vị ngữ là “ ある キノコ ” (“một cây nấm nào đó”) và sẽ có thể gây hiểu nhầm hay phức tạp câu văn. Vì thế nếu dùng “毒どくがある キノコ ” thì sẽ rõ ràng “毒どく” ở đây là bổ nghĩa.
Tương tự:
私わたしが愛あいしている人ひと (người tôi yêu) có thể gây hiểu nhầm sang 私わたしを愛あいしている人ひと (người yêu tôi) cho nên để chắc cú nhất thì ta nên dùng cụm sau:

私わたしの愛あいしている人  = Người mà tôi yêu

Các bạn cũng cần biết là:

毒どくがある キノコ  và  毒どくのある キノコ

có cấu tạo ngữ pháp khác nhau. 毒どくがある キノコ ,  ” キノコ ” được bổ nghĩa bởi một VẾ CÂU (Phrase,句く) là “毒どくがある “.
Còn 毒どくのある キノコ ,  “ キノコ ” được bổ nghĩa bởi một bổ ngữ (tính chất) là “毒どくのある “, bổ ngữ kiểu này bắt buộc phải có một danh từ đi ngay sau.

⑧ Kết luận về bổ ngữ tiếng Nhật

– Để hiểu sâu sắc và rõ ràng hãy phân tích câu ra thành phần chính, gồm:

– Chủ đề + [Tính chất / Hành động]
– Các bổ ngữ

– Bổ ngữ tiếng Nhật luôn đứng trước danh từ được bổ nghĩa giống tiếng Anh:

美うつくしい景色けしき = beautiful scene
Nhưng ngược tiếng Việt: cảnh đẹp

– Có thể có nhiều bổ ngữ ngang hàng cùng bổ nghĩa cho một danh từ

美うつくしい壮大そうだいな景色けしき = beautiful and magnificent scene
cảnh đẹp và hùng vĩ

=> Khi dịch sang tiếng Việt hay tiếng Anh thì nên có “và” (“and”).
– Có thể có bổ ngữ cho bổ ngữ hay thậm chí là bổ ngữ nhiều tầng

Quảng cáo giúp Tiếng Nhật Đơn Giản duy trì Website LUÔN MIỄN PHÍ
Xin lỗi vì đã làm phiền mọi người!

Mong rằng sau khi đọc hết bài viết này các bạn sẽ giúp các bạn học hà hiểu kỹ hơn về ngôn ngữ mình đang theo đuổi.
Nếu thấy hay đừng ngại chia sẻ cho mọi người nhé. Vì chia sẻ là Sức Mạnh mà

Tiengnhatdongian.com Để người Việt không sợ tiếng Nhật

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Được bỏ phiếu nhiều nhất
Mới nhất Cũ nhất

Tác giả Tiếng Nhật Đơn Giản

📢 Trên con đường dẫn đến THÀNH CÔNG, không có DẤU CHÂN của những kẻ LƯỜI BIẾNG


Mình là người sáng lập và quản trị nội dung cho trang Tiếng Nhật Đơn Giản
Những bài viết trên trang Tiếng Nhật Đơn Giản đều là kiến thức, trải nghiệm thực tế, những điều mà mình học hỏi được từ chính những đồng nghiệp Người Nhật của mình.

Hy vọng rằng kinh nghiệm mà mình có được sẽ giúp các bạn hiểu thêm về tiếng nhật, cũng như văn hóa, con người nhật bản. TIẾNG NHẬT ĐƠN GIẢN !

+ Xem thêm